• Hỗ trợ trực tuyến :

Sức khỏe - Môi trường

  • ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT TINH BỘT SẮN TỪ CỦ SẮN TƯƠI

  • [Thứ tư, 7-1-2009]

  • Khi nhà máy sản xuất tinh bột sắn từ củ sắn tươi hoạt động sẽ tạo nên các nguồn gây ô nhiễm đến môi trường cơ bản sau:

  •  

     

     1.Nguồn gốc các ô nhiễm môi trường

         Khi nhà máy sản xuất tinh bột sắn từ củ sắn tươi hoạt động sẽ tạo nên các nguồn gây ô nhiễm đến môi trường cơ bản sau:

    1.1. ô nhiễm môi trường không khí.

                Không khí xung quanh khu vực xây dựng nhà máy sẽ có nguy cơ bị ô nhiễm bao gồm:

              -Do các tác nhân vật lý như: tiếng ồn, độ rung, nhiệt năng dư thừa của quá trình sấy.

              -Bụi và khí thải do các phương tiện giao thông vào, ra chuyên chở nguyên liệu, sản phẩm, nhiên nguyên liệu phục vụ sản xuất.

              -Bụi cực nhỏ của sản phẩm từ công đoạn làm khô đóng bao, vận chuyển (vào kho hoặc xuất bán).

              -Khói thải của các loại lò cấp nhiệt, khói dàn FO (đối với các lò dùng dầu), khói than (của các loại lò dùng than)

              -Mùi hôi do sử lên men và phân huỷ hảo khí các chất hữu cơ trong nước thải, bã sẵn tồn dư trong các xưởng và sau sản xuất mỗi ca, mỗi ngày do không làm vệ sinh triệt để và kịp thời.

    1.2.Ô nhiễm môi trường nước.

              Nước tự nhiên, kể cả nước ngầm bị nguy cơ ô nhiễm do các lý do sau:

              -Nước thải ra từ công đoạn rửa củ, bóc vỏ gỗ có chứa nhiều bùn, cát, mảnh vỏ sắn, axit HCN tạo ra sự phân huỷ Phazeolunatin trong vỏ lụa nhờ xúc tác của men Cyanoaza.

              -Nước thải trong quá trình làm nhỏ củ sắn, tách bã thô và xơ mịn, phân ly và cô đặc dịch sữa tinh bột, chứa nhiều tinh bột, các chất béo và khoáng.

              -Nước thải sau quá trình tinh lọc có chứa các các chất hữu cơ (BOD), các chất vẫn lơ lửng dạng huyền phù (SS) ngoài ra còn chứa các dịch bào Tamin, men và nhiều hợp chất vi lượng hoà tan với nước với nồng độ cao (xem bảng 1)

    Hồ nước thải chưa được xử lý hoạc xử lý không đúng cách bị ô nhiễm (nguồn www.nongnghiep.vn )

    1.3.Ô nhiễm môi trường do tác động của các chất thải rắn.

              -Chất thải rắn chủ yếu là vỏ củ sắn, xơ bã và các mảnh vụn củ sắn.

              -Cặn lắng dạng bùn từ các hệ thống dẫn và xử lý nước thải.

    2. Mức độ gây ô nhiễm của các nguồn và kiến nghị các biện pháp khắc phục

    2.1.Mức độ gây ô nhiễm không khí

    a.Tải lượng nguồn bụi tinh bột sắn.

              Theo tính toán của cơ quan y tế thế giới và tổ chức bảo vệ môi trường Mĩ (USEPA), từ công suất thiết kế của nhà máy có thể tính ra tải lượng bụi trung bình theo định mức khoảng 0,035 đến 0,04g/s cho một tấn sản phẩm. Ví dụ như một nhà máy có công suất 50TSP/ngày, thải vào không khí với tải lượng bụi bột sắn khoảng 1,9 đến 2g/s.

              Lượng bụi nhỏ của tinh bột sắn sản phẩm với tải lượng đã nêu cần phải được hạn chế tới mức tôi đa (96 ¸ 98%) nhờ các kỹ thuật thu bụi thích hợp (các loại cyclon). Một trong các giải pháp đang được phổ biến là phung ẩm và thu hồi bụi từ các miệng thải của khí sấy và khí làm nguội.

    b.Tải lượng các chất gây ô nhiễm do đốt cháy nhiên liệu.

              Phổ biến hiện nay dùng hai loại nhiên liệu cho các loại lò cung cấp nhiệt năng cho quá trình sấy khô tinh bột là dầu nặng (FO) và than đá. Khi cháy cả hai loại nhiên liệu trên đều thải ra không khí môi trường các chất gây ô nhiễm như bụi nhỏ, SO2, NO2 và CO. Nếu dùng than đá (có kích thước hạt ≥40mm), lượng bụi nhỏ và khí SO2 cao hơn khi sử dụng FO. Theo tính toán, đối với các nhà máy sản xuất tinh bột sắn có công suất ≤ 300 tấn SP/ngày nồng độ các chất thải ra từ khói lò đều nằm trong giới hạn cho phép theo TCVN qui định (TCVN 5939 – 1975 – không khí loại B).

              Giải pháp cần thực hiện để giảm bớt nồng độ các chất gây ô nhiễm trong khói lò là đường dẫn khói thải từ lò phải đảm bảo độ cao cần thiết cho phép các chất thải nhanh chóng khuyếch tán vào không khí làm cho nồng độ bị loãng ra. Thông thường chiều cao ống khói phải có độ cao ≥ 15m tuỳ thuộc vào vị trí địa lý của nhà máy, vận tốc khói đảm bảo đủ lớn để dễ dàng lan toả và không khí (thông thường phải vận chuyển khói bằng các loại quạt). Riêng đối với các loại lò đốt dùng than đá, khói lò cần được đi qua các thiết bị lọc bụi trước khi thải ra môi trường.

    c.Tiếng ồn

              Yêu cầu về độ ồn của các nhà máy phải nằm trong giới hạn cho phép áp dụng  cho các xí nghiệp công nghiệp nằm xa khu dân cư đông đúc ( ≤ 70db) do tiêu chuẩn Việt Nam qui định. Các thiết bị gây tiếng ồn lớn khi vận hành cần phải được bố trí ở vị trí hợp lý không gây ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của công nhân vận hành hoặc phải có biện pháp xử lý giảm ồn cần thiết.

    Thiết bị thu bụi tinh bột và giảm ồn của khí sấy do Viện NCTKCTM NN chế tạo, lắp đặt.

    2.2.Mức độ ô nhiễm do nước thải

              Do đặc thù của công nghệ sản xuất thông thường lượng nước sử dụng cho sản xuất 1kg sản phẩm là rất lớn (khoảng 300m3/tấn sản phẩm). Toàn bộ khối lượng nước dùng cho sản xuất đều thải vào nguồn nước tự nhiên. Nước thải sau sản xuất chứa hàm lượng các chất hữu cơ lớn (xem bảng 1) làm suy giảm nồng độ O2 hoà tan trong nước nguồn do sinh vật sử dụng O hoà tan trong nước để phân huỷ các chất hữu cơ. Lượng O2 hoà tan trong nước nguồn xả nước thải giảm gây tác hại nghiêm trọng đến tài nguyên thuỷ sinh. Theo FAO nồng độ O2 hoà tan trong nước để nuôi cá > 50% giá trị bão hoà hay > 4mg/lít ở 250C.

              Tiêu chuẩn về nguồn nước loại B của Việt Nam (TCVN 5945-trang 75) qui định lượng BOD trong nước thải hoà vào nước nguồn phải ≤50mg/lít, nồng độ COD ≤ 100mg/l.

              Các giải pháp công đoạn rửa củ sắn và vệ sinh nhà xưởng trong và sau sản xuất phải được lọc các tạp chất có kích thước lớn như vỏ gỗ, đầu vụn củ sắn… bằng các lưới chắn rác hoặc thiết bị sàng thu gom. Sau đó dẫn tới các hồ lắng để thu gom bùn, cát định kỳ và hoà vào nguồn nước thải chung.

    Bảng 1: Thông số nước thải trước và sau xử lý.

     

    Trước khi xử lý

    Sau khi xử lý (TCVN 5945-75)

    Lưu lượng (m3/TSP)

    25

    25

    BOD5 (PPm)

    6000 ¸ 7000

    ≤ 50

    COD  (mg/l)

    10.000 ¸ 12.000

    ≤ 100

    pH

    ¸ 7

    6¸9

    SS  (ppm)

    ≈ 3500

    ≤ 200

              Nước thải từ quá trình nghiền, tách lọc phân ly (chủ yếu là nước vệ sinh thiết bị) được thu gom vào rãnh và cấp vào bể thu hồi tinh bột và sau đó dẫn vào bể tách Protein, lắng sạn cát trước khi xả vào hệ thống xử lý chung.

              Nước thải ra từ công đoạn tinh lọc cần được trung hoà (nâng cao độ pH) sau đó được đưa vào các công đoạn xử lý nhằm làm tăng lượng O2 hoà tan trong nước theo các biện pháp: Vi sinh, hoá học, vật lý hoặc kết hợp các biện pháp đã nêu.

              Hiện nay ở Việt Nam chủ yếu dùng các biện pháp vi sinh kết hợp với các biện pháp vật lý (lắng bùn cát, tách các tạp chất rắn). Biện pháp này luôn cần đến diện tích lớn để thiết lập hệ thống các hồ chứa và xử lý đảm bảo sau khoảng 25 ¸ 30 ngày nước sau xử lý mới được xả vào nguồn.

              -Các chất thải rắn thu gom từ các công đoạn như, tách vỏ gỗ, rửa, vệ sinh sân bãi và thu gom từ các song chắn rác trên các kênh dẫn nước thải… được vơ lại thành đống sau đó được chôn lấp hoặc làm phân vi sinh.

     

    Hồ nước thải nhà máy sắn Yên Thàh-Nghệ An sau khi được sử lý

    2.3.Xử lý bã sắn.

              Bã sắn thải ra từ nguyên công tách bã có các thành phần vật chất như sau:

              Tinh bột ở thể tự do:                 (1 – 2)%

              -Tinh bột còn ở dạng liên kết:    (4-9)%

              -Oxetrin pectin                          (2-0,25)%

              -Xenluloza:                               (15-16)%

              -Protit:                                      5%

              Khối lượng bã tuỳ thuộc vào công suất của nhà máy và được tính theo định mức khoảng 30% khối lượng củ đã đưa vào sản xuất. (Ví dụ, công suất 50TSP/ngày, bã thải khoảng 60 – 65tấn). Độ ẩm của bã tuỳ thuộc vào chất lượng khâu tách bã cuối cùng và việc có hay không có các thiết bị tách nước sau khi tách bã. Thông thường cần phải có các biện pháp để độ ẩm của bã dao động từ 70 – 75% tiện cho việc xử lý, vận chuyển. Bã sắn sau khi xử lý có thể dùng vào các mục đích: nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, môi chất nuôi cấy các loại nấm, nguyên liệu cho sản xuất cồn, sản xuất phân bón vi sinh…

    Ng.V.Khỏe-RIAM

  •  
    In bài này   Quay lại
    Mọi đóng góp về website xin gửi: Viện Nghiên cứu thiết kế chế tạo Máy nông nghiệp

    Địa chỉ: Số 8, đường Trần Phú, quận Hà Đông - Hà nội. Điện thoại: 0989.741.728 - (+84.4) 38547363  Fax: (+84.4) 38547366
    Website:
    http://www.riam.com.vn.      E-mail: ndtung@riam.com.vn